9999+ Nhạc Không Lời Chọn Lọc Hay Nhất
Welcome
Login / Register

Tiểu sử


  • Tiểu sử của Guitarist Vĩnh Tâm

    Tóm tắt lý lịch Vĩnh Tâm

    Nghệ sĩ Vĩnh Tâm sinh ngày 23-12-1973 tại Thành phố Hồ Chí Minh, nước Việt Nam. Ông sinh thuộc cung Ma Kết, cầm tinh con (giáp) trâu (Quý Sửu 1973). Vĩnh Tâm xếp hạng nổi tiếng thứ 84466 trên thế giới và thứ 64 trong danh sách Nghệ sĩ nổi tiếng. Tổng dân số của Việt Nam năm 1973 vào khoảng 45,82 triệu người.

    Tiểu sử Nghệ sĩ Vĩnh Tâm

    Nhắc đến nghệ sĩ Vĩnh Tâm người ta nhớ ngay đến hình ảnh quen thuộc của một người nghệ sĩ gắn liền với cây đàn guitar - người góp phần nên sự thành công ở mỗi buổi diễn hay sự kiện của nhiều người nghệ sĩ khác như ca sĩ Bằng Kiều, ca sĩ Lệ Quyên, ca sĩ Quang Dũng,.....

    Tiếp xúc với âm nhạc từ nhỏ, ngay từ khi lên lớp 4 nghệ sĩ Vĩnh Tâm đã theo học đàn mandolin, sau đó chuyển sang học đàn guitar. Sau khi hoàn thành xong chương trình học phổ thông, nghệ sĩ Vĩnh Tâm tham gia vào ban nhạc Hải Âu cùng với nhạc sĩ Nguyễn Hà; một thời gian sau đó Vĩnh Tâm cũng tham gia vào nhóm The Friends. 

    Vào tháng 7 năm 2002, nghệ sĩ Vĩnh Tâm rút khỏi ban nhạc và trở thành một người nghệ sĩ độc lập ở cả sáng tác lẫn hòa âm phối khí. Trong năm 2002, anh cho phát hành ca khúc đầu tay của mình mang tên Tình yêu tìm thấy dưới sự trình bày của ca sĩ Quang Vinh ; ca khúc này đã được đông đảo các khán giả yêu mến. Và cũng từ bước đầu thành công này anh đến với nghề sáng tác với nghệ danh nhạc sĩ Vĩnh Tâm. Đến nay, nghệ sĩ Vĩnh Tâm cũng đã có một số lượng ca khúc kha khá do chính anh sáng tác.

    Bên cạnh đó, không chỉ là một nhạc công, nhạc sĩ mà Vĩnh Tâm còn là một người hòa âm phối khí cho rất nhiều album của các ca sĩ mặc dù với công việc này là một công việc khá mới mẻ đối với anh đặc biệt là nó cần đòi hỏi kinh nghiệm lâu năm trong nghề mới có thể đáp ứng được công việc này. Bởi một người hòa âm phối khí phải là một người phải biết viết ra một bản nhạc đệm dựa trên ca khúc cần hòa âm. Để có thể đáp ứng được điều này nghệ sĩ Vĩnh Tâm đã không ngừng học hỏi qua mọi đĩa CD của mọi thể loại nhạc trên thế giới. Có thể nói với sở trường là dụng cụ guitar nên không mấy khi khó hiểu khi các sản phẩm phối khí của anh mang âm hưởng của guitar. Hiện tại, anh cũng đã phát hành được một số album và đã có sự thành công nhất định ; album Hanoi Golden Melody do Vafaco của ạnh được xem là cuốn album được bán chạy nhất. bên cạnh đó anh cũng gây ấn tượng với album hòa tấu guitar Lời buồn thánh gồm 10 nhạc phẩm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gây ấn tượng sâu sắc với khán giả. Tiếp sau đó, nhạc sĩ Vĩnh Tâm cũng đã phát hành đĩa CD hòa tấu vol.3 Nhớ mưa Sài Gòn bao gồm nhiều tình khúc lãng mạn.

    Hiện nay, nhạc sĩ Vĩnh Tâm là trưởng ban nhạc M&Toi.

    Trong năm 2003 -2004, Vĩnh Tâm là nhạc sĩ duy nhất đoạt giải Hòa âm xuất sắc của Làn Sóng Xanh và giải Nhạc sĩ sáng tác của năm 2004 với ca khúc Hãy để em ra đi do ca sĩ Phương Thanh trình bày.

    >> CÁC BẠN CÓ THỂ NGHE BẢN GUITAR CỦA NGHỆ SĨ VĨNH TÂM TẠI ĐÂY

    Read more »
  • Tiểu sử Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

    Trịnh Công Sơn (28 tháng 2 năm 1939 – 1 tháng 4 năm 2001) được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của âm nhạc đại chúng, Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến. Hiện nay chưa có thống kê chính xác về số tác phẩm để lại của ông (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc). Tuy nhiên số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly và Hồng Nhung. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ, một ca sĩ và một diễn viên không chuyên.

    Thời niên thiếu

    Ông quê ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ ông theo học các trường Lycée Français và Providence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée Jean Jacques Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây.


    Năm 1957, khi 18 tuổi, ông bị một tai nạn, khi đang tập judo với người em trai, ông bị thương nặng ở ngực, suýt chết và phải nằm liệt giường gần hai năm tại Huế. Thời gian nằm bệnh, ông đọc nhiều sách về triết học, văn học, tìm hiểu dân ca. Ông từng thổ lộ: "Khi rời khỏi giường bệnh, trong tôi đã có một niềm đam mê khác – âm nhạc. Nói như vậy hình như không chính xác, có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trỗi dậy".
    Theo ông cho biết, ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều vào năm 17 tuổi. Nhưng tác phẩm được công bố đầu tiên của ông là Ướt mi, do nhà xuất bản An Phú in năm 1959 và qua giọng ca Thanh Thúy.


    Năm 1961 vì muốn tránh thi hành nghĩa vụ quân sự (trốn lính) nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Quy Nhơn. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng.

     

     

    Sự nghiệp

    Tên tuổi của Trịnh Công Sơn được nhiều người biết đến hơn, từ khi ông cùng ca sĩ Khánh Ly hát tại Quán Văn, một quán cà phê đơn sơ dựng trên bãi đất cỏ sau Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn do nhóm sinh viên mang tên Khai Hóa trong phong trào phục vụ thanh niên xã hội chủ trương, từ cuối năm 1966.Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly. Ông kể: "Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly. Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly. Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa. Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly", còn Khánh Ly kể lại giai đoạn cơ cực đói khổ nhưng đầy hạnh phúc những năm 1960 ấy: "Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn".

    Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như "Diễm xưa" (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt), "Ca dao Mẹ", "Ngủ đi con". Riêng bài Ngủ đi con đã phát hành trên hai triệu đĩa nhựa. Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền Việt Nam Cộng hòa đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông.Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng", nhiều ca khúc của ông có thông điệp phản chiến bị cả hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa cấm lưu hành Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng không tán thành thái độ phản chiến của ông về chiến tranh, vốn mang tính "chủ hòa, ủy mị", làm nản lòng những người đang đấu tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước. Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng", Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì có những người phê phán ông vì coi ông là "thiếu lập trường chính trị", có những người cực đoan đòi sau khi tiến về Sài Gòn sẽ "xử tử" ông.

    Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài "Nối vòng tay lớn" (bài hát kêu gọi và nói về ước mơ thống nhất dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968 nhưng chưa từng công bố cho tới thời điểm đó, nay được ông công bố để kỷ niệm sự kiện trọng đại mà ông mong chờ đã lâu) Cũng chính ông là người trưa ngày 30/4 đã đứng lên phát biểu trực tiếp trên đài phát thanh Sài Gòn sau lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. Trong bài phát biểu, ông kêu gọi người dân miền Nam ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam:

    "Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta... Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam này... Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả kết quả đó... Hôm nay tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam, các bạn trẻ và Chính phủ Cách mạng lâm thời xem những kẻ ra đi là những kẻ phản bội đất nước... Chính phủ Cách mạng lâm thời đến đây với thái độ hòa giải, tốt đẹp. Chúng ta không có lý do gì để sợ hãi mà ra đi cả. Đây là cơ hội duy nhất và đẹp đẽ nhất để đất nước Việt Nam được thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước suốt mấy chục năm nay. Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu và cũng như những người chưa quen của tôi xin ở lại và kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng miền Nam Việt Nam này..."

    Theo BBC, sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di cư sang Mỹ và ông phải đi học tập cải tạo trong 4 năm. Tuy nhiên, theo tác giả Bùi Đức Lạc (một người bạn thân của Trịnh Công Sơn) thì ông chỉ đi làm kinh tế mới vài năm chứ không hề có cải tạo, nguồn khác thì nói ông đi học tập chính trị 2 năm ở Cồn Tiên. Theo Nguyễn Đắc Xuân, thời gian đầu sau khi kết thúc chiến tranh năm 1975, “Đối với lãnh đạo thì không có vấn đề gì, nhưng có nhiều "anh em phong trào" ở Sài Gòn không thích quan điểm lập trường chung chung của Trịnh Công Sơn trước đây", ông trở về Huế và "thời gian đó một số phần tử quá khích theo phong trào "Hồng vệ binh" của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa đã kích động sinh viên treo một tấm banderole to tướng mang dòng chữ xanh rờn: "Hạ bệ Phạm Duy - Hoàng Thi Thơ và Trịnh Công Sơn" trước trường Đại học Sư phạm Huế" và "tiếp theo là cuộc tọa đàm luận tội "Trịnh Công Sơn có công hay có tội" tại Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế. Hôm ấy có cả Trần Hoàn, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Viết Ngạc và vài người nữa. Có người lên án, nhưng cũng có người bảo vệ. “Tội” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là ông đã làm nhạc phản chiến một cách chung chung, không phân biệt được chiến tranh xâm lược và chiến tranh giải phóng dân tộc trong bài “Gia tài của mẹ” với câu Hai mươi năm nội chiến từng ngày. Thậm chí ông còn làm nhạc ca ngợi địch trong bài “Cho một người nằm” xuống thương tiếc đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tử trận – người đã từng cưu mang ông. Nhiều người phát biểu biện hộ cho Trịnh Công Sơn: “Đúng là Trịnh Công Sơn đã làm nhiều bản nhạc phản chiến, anh được mệnh danh là người làm nhạc phản chiến số 1 thời ấy giống như Bob Dylan, Joan Baez ở bên Mỹ. Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tự do, anh theo đuổi chủ nghĩa nhân bản chung chung khác chúng ta. Nhưng anh làm nhạc trong vùng tạm chiếm, người nghe nhạc phản chiến của anh là lính Cộng hòa. Rất nhiều lính của Thiệu đã bỏ ngũ vì nghe bản nhạc Người con gái da vàng của anh. Chẳng có người lính cách mạng nào bỏ ngũ vì nghe nhạc của Trịnh Công Sơn cả. Cũng như ngày xưa bên Trung Quốc, Trương Lương thổi sáo đâu phải để cho quân mình buông kiếm! Đâu phải tự dưng chính quyền Thiệu ra lệnh tịch thu những bài hát của Sơn”. Và chính xấp tài liệu đăng lệnh của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cấm phổ biến nhạc Trịnh Công Sơn, lệnh cấm mang số 33 ngày 8.2.1969, đã có sức thuyết phục lớn đối với những người tham dự tọa đàm. Sau cuộc tọa đàm, Trịnh Công Sơn phải viết kiểm điểm. Hồi ấy, những bản kiểm điểm nói không đúng vấn đề thường phải viết lại. Trịnh Công Sơn chưa quen lối sinh hoạt này nên rất chán chường..." Trong thời hậu chiến này, cả nước rất khó khăn và như bao người Việt khác, Trịnh Công Sơn cũng được điều đi lao động sản xuất, khi thì trồng khoai lang, lúc cấy lúa trên những cánh đồng đầy bom đạn chưa tháo gỡ.

    Một thời gian dài sau 1975, nhiều bài hát của ông bị cấm lưu hành ở tại Việt Nam hay bị một số người kêu gọi tẩy chay ở hải ngoại. Tuy nhiên, Khánh Ly và nhiều ca sĩ vẫn tiếp tục hát và phát hành những băng đĩa với ca khúc của ông tại hải ngoại.

    Những năm sau 1975, sau thời gian học tập chính trị, ông làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Từ đầu thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, lúc đầu một số sáng tác ông gởi qua cho Khánh Ly và chỉ phát hành tại hải ngoại. Khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc trong nước, ông có viết một số bài có nội dung ca ngợi những chủ trương của chế độ mới như Thành phố mùa xuân, Ngọn lửa Maxcova, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ... Sau đó nhà nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị.

    Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ vai chính trong phim Đất khổ. Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được chiếu cho công chúng xem 2 lần rồi bị Việt Nam Cộng hòa cấm không được phép trình chiếu ở Miền Nam Việt Nam với lý do "có tính phản chiến". Sau năm 1975, bộ phim không được trình chiếu tại Việt Nam. Cuối cùng, một bản phim đã về tay nhà thơ Đỗ Trung Quân. Bộ phim được chọn là phim Việt Nam chính trong Liên hoan phim Á Mỹ năm 1996.

    Cuối đời, ông bị bệnh gan, thận và tiểu đường. Tuy nhiên, ông vẫn cố gắng sáng tác những ca khúc mới trong những năm cuối đời mình.


    Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường lúc 12 giờ 45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 (tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ), hàng ngàn người đã đến viếng tang và "có thể nói, chưa có nhạc sĩ nào mất đi lại được công chúng thương tiếc như Trịnh Công Sơn". Ông được an táng tại Nghĩa trang chùa Quảng Bình (phường Bình Chiểu - quận Thủ Đức). Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm.

     

     

    Khen thưởng và Vinh danh

    Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng (phát hành trên 2 triệu đĩa) ở Nhật Bản với bài "Ngủ đi con" (trong Ca khúc da vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly. Năm 1979, hãng đĩa Nippon Columbia mời Khánh Ly thu băng lần thứ hai các nhạc phẩm của ông, cũng vào năm này ca khúc "Ngủ đi con" trở thành 1 hit ở Nhật Bản.

    • Giải thưởng cho Bài hát hay nhất trong phim "Tội lỗi cuối cùng"
    • Giải Nhất của cuộc thi "Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến tranh" với bài "Em ở nông trường, em ra biên giới"
    • Giải Nhất cuộc thi "Hai mươi năm sau" với bài "Hai mươi mùa nắng lạ".
    • Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc Sĩ cho một chuỗi bài hát: "Xin trả nợ người", "Sóng về đâu", "Em đi bỏ lại con đường"
    • Năm 2004, Giải thưởng Âm nhạc hòa bình thế giới được trao cho ông vì "lý tưởng hòa bình mà ông đã đấu tranh không mệt mỏi cho nhân loại".
    • Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển bách khoa Pháp Les Million.
    • Trong cuộc họp chiều 17 tháng 3 năm 2011, Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế đã chính thức thông qua việc đặt tên của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho con đường dài 600 mét, rộng 11 mét lát nhựa mới mở ven sông Hương thuộc phường Phú Cát, thành phố Huế.

    CÁC BẠN CÓ THỂ NGHE NHẠC KHÔNG LỜI TRỊNH CÔNG SƠN TẠI ĐÂY

    Read more »
  • Tiểu sử Guitar Vô Thường

    VÀI NÉT VỀ NHẠC SĨ VÔ THƯỜNG

    Cố nhạc sĩ Vô Thường (1940 - 2003) là một người Ninh Thuận, rất quen thuộc với giới trẻ trước năm 1975. Có lẽ hầu hết ai ở Phan Rang cũng biết đến ông Bảy Rìu chủ quán cà phê Diễm với phong thái rất nghệ sĩ và rất chịu chơi, ai ai cũng thương mến. Bảy Rìu là cái tên gọi mà chỉ có những người Phan Rang và bằng hữu thân thiết mới biết, còn ngoài đời thì người ta chỉ biết anh qua cái tên Vô Thường với ngón đàn tay trái độc nhất vô nhị mà ngay đến những bậc thầy âm nhạc ai cũng phải nể nang một bậc. Nói về tài năng của Vô Thường, có lẽ có hai bậc thầy âm nhạc là giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê và giáo sư Tiến sĩ Trần Quang Hải là những người có đủ uy tín nhất để tôn vinh anh.

    Ngón đàn guitar của anh rất bất thường vì, trong số nhạc sĩ guitar thế giới đánh đàn tay trái, chỉ có 15 người, và những người kia không được nhiều người biết tới. Thoạt đầu anh tự học đàn mình,những lúc ngồi rảnh, ở tiệm furniture, anh mang cây đàn guitar thùng ra khẩy chơi, ít lâu sau bạn bè khuyến khích anh thu vào cassette, tặng những khách hàng thân hữu bỏ nghe lúc lái xe. Bỗng dưng nhạc độc tấu của anh lại trở nên thông dụng và lan rộng vào những quán café, nhà hàng. Thính giả nồng nhiệt khen ngợi mở cho anh một con đường mới là thu thanh qui mô hơn vào băng và dĩa CD. Thời cực thịnh của Vô Thường tự biên tự diễn được 140 cuốn. 

    Tác phẩm của anh được bà con mọi giới đón nhận. Ở Việt Nam, nhạc Vô Thường được phổ biến khá rộng. Sau 1975 nhạc Vô Thường được ái mộ khá nhiều, vì tiếng guitar của anh đã quá quen thuộc. Nhạc Vô Thường được thưởng thức và chuyền tay nhau làm sống lại những giai điệu một thời vàng son.
     

    GIỚI THIỆU GUITAR VÔ THƯỜNG

    Vô Thường không xa lạ gì với người Việt Nam, khán thính giả thương mến anh anh đã vượt ra lằn ranh chủng tộc. Ngón đàn guitar của anh đã và đang réo rắt trong những cộng đồng bạn, Mỹ, Mễ, Miên, Lào, Ðại Hàn. Một sự tình cờ thích thú làm của một người yêu nhạc vui lây cho đến nay; Khi có dịp đi Mễ chơi, người yêu nhạc này vào một nhà hàng ở Ensenada, khung cảnh hoàn toàn Mễ nhưng nghe âm vang nhạc guitar phát ra từ chiếc máy CD ông ta tại thấy hơi quen quen. Tò mò hỏi, senorita Mễ mượn ông chủ cái CD đưa ra cho tôi xem, đó là một đĩa nhạc của bạn ông, Vô Thường với chữ ký bằng bút lông đã cũ làm cho ông ấy cảm động. Chủ quán lân la ra ngồi tán dóc rất thú vị. Theo lời giải thích “bằng tay” của ông chủ, vùng này đã có nhiều người Việt Nam qua chơi hàng tuần, có người còn lập nghiệp ở đây luôn, họ mang theo đĩa nhạc, thấy nhạc guitar của Vô Thường nghe gần gũi, họ nhờ mua giúp để phát cho khách quốc tế thưởng ngoạn.

    Vô Thường đã từng là một thương gia thành công trong ngành furniture. Có lúc mình ông làm chủ đến 5 tiệm, thế nhưng, máu nghệ sĩ của ông còn cao hơn cả đầu óc thương mại. Lựa đúng thời cơ, Vô Thường nhảy ra mở vũ trường đầu tiên của người Việt hải ngoại: Khiêu vũ trường Ritz vang bóng một thời vào năm 1985-1986. Hai năm sau không kèn không trống ông sang nhượng Ritz lại cho nhạc sĩ Ngọc Chánh để chuyên trị ngón sở trường, đó là tự sản xuất băng, đĩa nhạc độc tấu guitar.

    Ngón đàn guitar của ông rất bất thường vì, trong số nhạc sĩ guitar thế giới đánh đàn tay trái, chỉ có 15 người, và những người kia không được nhiều người biết đến. Thoạt đầu ông tự học đàn một mình , những lúc ngồi rảnh, ở tiệm furniture, anh mang cây đàn guitar thùng ra khẩy chơi, ít lâu sau bạn bè khuyến khích anh thu vào cassette, tặng những khách hàng thân hữu bỏ nghe lúc lái xe. Bỗng dưng nhạc độc tấu của ông lại trở nên thông dụng và lan rộng vào những quán café, nhà hàng. Thính giả nồng nhiệt khen ngợi mở cho anh một con đường mới là thu thanh qui mô hơn vào băng và dĩa CD. Thời cực thịnh của Vô Thường tự biên tự diễn được 140 cuốn.

    Tác phẩm của ông được mọi lứa tuổi đón nhận. Ở Việt Nam, nhạc Vô Thường được phổ biến khá rộng. Người kẹt lại sau 1975 ái mộ nhạc Vô Thường nhiều nhất, vì điệu nhạc đã quá quen thuộc, các nhà sản xuất khác không dám thu thanh lời “nhạc phản động”, thính giả quay ra nghe nhạc Vô Thường và chuyền tay nhau làm sống lại một thời vàng son nhạc vàng trước năm 1975.

    Bên cạnh việc chơi đàn Vô Thường cũng sáng tác một số ca khúc tình cảm lãng mạng,ông rất muốn dành những tác phẩm của mình cho dân chúng yêu nhạc, có “những nỗi niềm riêng” chưa có dịp bọc bạch thì cơn bạo bệnh bất ngờ chụp xuống làm cho ông phải bỏ ngang mọi kế hoạch âm nhạc. Ðiều ước nguyện sau cùng ông là đoàn tụ với hai người con gái vị thành niên đã xa cách từ năm 1975. Các Cô mới sang được vài năm thì Vô Thường lâm bệnh, anh tự biết cơ thể mình có những triệu chứng chẳng lành. Dù cố che giấu nhưng các con ông hay, ngày chia tay với người cha đã gần kề. Những ngày còn lại, Vô Thường truyền đạt hai con việc thu thanh, in ấn ngay trong studio tại nhà, rất trung thực,ông trăng trối đó là gia tài duy nhất của ông để lại cho hai người con duy nhất.

    Ngày Vô Thường giã biệt, hàng trăm anh chị em nghệ sĩ, chủ trung tâm, đến tiễn đưa thật cảm động. Ai cũng thấy xót thương cho hai người con vừa đoàn tụ thì bố đã vội bỏ đi. Lúc sinh thời, Vô Thường hòa nhã, thân thiện với mọi người. Đó là tấm gương đạo đức tốt về con người tài Hoa Vô Thường, và cũng là câu chuyện mà tôi tình cờ được biết đến trong thời đại văn minh ngày nay.

    -->>> VÀO ĐÂY ĐỂ NGHE NHẠC CỦA GUITAR VÔ THƯỜNG

    Read more »
RSS